Hiệp hội Phân bón Việt
Nam
Điện thoại: 04 7847174 –
0903404671
Fax: 04 7847164
Email:
……………………….
Bản tin 18-08
T́nh h́nh giá cả phân
bón các nước
và cảng chính trên thế
giới
từ ngày 2 đến 7/5
năm 2008
thị trường ure:
Giá ure hạt trong:
Yuzhny: 585-605 đô/tấn
fob Baltic: 580-590 đô/tấn fob
Vịnh A-rập: 590-610 đô/tấn
fob
Giá ure hạt đục:
Vịnh A-rập: 475-592 đô/tấn
fob Ai Cập: 620 đô/tấn fob
Mỹ: 515-595 đô/tấn
fob Inđônêxia: 565-580 đô/tấn fob
- Giá ure tiếp tục tăng
mạnh đối với hàng tháng 5, so với 4 tuần trước đây giá đă tăng trên 50%.
Nguồn cung cấp vẫn đang bị ảnh hưởng do thiếu vắng một lượng lớn ure từ thị
trường Trung Quốc, trong khi đó nhu cầu từ châu Mỹ Latinh đang tăng lên và
có nhiều thông tin về việc ấn Độ sớm quay lại thị trường mua chuyến hàng đầu
tiên với số lượng lớn khiến cho nhu cầu nhập khẩu tăng lên. Tái xuất khẩu
ure hạt đục từ Mỹ và Italia đă bù lại một phần thiếu hụt trong nguồn cung
cấp cho châu Mỹ Latinh và phần nhiều trong số hàng tái xuất khẩu này có thể
bị hấp dẫn bởi các thị trường khác ở nam Âu. Tuy nhiên, điều này tạo ra một
sự sắp xếp lại nguồn cung cấp. Vẫn chưa có tin tức chính xác từ ấn Độ.
- Ure hàng tháng 5 của FSU
bán giá 605 đô/tấn fob tại Biển Đen, 580-590 đô/tấn fob tại Baltic, 620
đô/tấn fob tại Ai Cập và 590 đô/tấn fob tại Vịnh Arập. Mới đây nhất các nhà
xuất khẩu đă tăng giá hàng tháng 5, 6 thêm 20-25 đô/tấn lên 630 đô/tấn fob
tại Yuzhny và 650 đô/tấn fob tại Vịnh Arập. Thị trường Mỹ trong mấy tháng
gần đây giá thường thấp hơn giá thế giới, tuần này đă tăng lên 590 đô/tấn
fob vận chuyển bằng sà lan tại Niu Orleans. Đây là hoạt động phản ứng lại để
thu hút khoảng 30.000 hàng tái xuất khẩu quay về các thị trường có lợi thế
về thuế ở châu Mỹ Latinh. Hàng cuối tháng 5 của FSU có giá 620-630 đô/tấn
fob, trong khi người mua trả hàng của Trung Đông giá 610 đô/tấn fob và hiện
giá chào bán đă tăng lên 650 đô/tấn fob.
(Biểu đồ 1:
Ure, DAP, MOP trên thị trường và Tương lai của giá ngô -
Tốc độ tăng
giá phân bón đă vượt qua tốc độ tăng giá ngô, khiến cho nhiều người lo lắng
về tính kinh tế trong nông nghiệp)
-Tại
Biển Đen:
Yuzhny:
Giá ure tuần này tăng
từ 580 đô/tấn lên 605 đô/tấn fob tại Yuzhny đối với hàng tháng 5. Hiện hàng
cuối tháng 5 đầu tháng 6 giá tăng lên 530 đô/tấn fob. Theo ước tính Yuzhny
đă cam kết bán khoảng 260.000 tấn hàng tháng 5. Sitrol thông báo sẽ ngừng
sản xuất trong 45 ngày từ 15/5 đến 30/6 để bảo dưỡng tại một trong 3 dây
chuyền sản xuất ammonia ở Gorlovka. Việc này sẽ làm thâm hụt khoảng 55.000
tấn ammonia nhưng với hai dây chuyền hoạt động hết công suất sẽ không ảnh
hưởng đến sản lượng ure. (Biểu đồ 2: Ure của
FSU, Vịnh Arập và Trung Quốc trên thị trường trong năm 2007-08 –
Giá hàng của Yuzhny là 605
đô/tấn fob, vẫn có “chiếc ô” là Trung Quốc v́ hàng xuất khẩu của Trung Quốc
có giá cao hơn nhiều khi áp dụng thuế xuất khẩu mới 135%).
Baltic:
Vài ngày gần đây, các
nhà sản xuất của Nga bán hàng giá trên 580 đô/tấn fob. Một vài nhà sản
xuất/xuất khẩu vẫn chưa đưa ra giá hàng tháng 5 nhưng từ chối giá người mua
trả là 590 đô/tấn fob. Hiện tại giá chào bán là 600-610 đô/tấn fob.
Tại châu Âu/Biển
Đỏ/Med:
Ai Cập:
Helwan bán 15.000 tấn
hàng cuối tháng 5 giá 630 đô/tấn fob ~ 465-470 euro/tấn vdb tại Pháp. Helm
sẽ vận chuyển khoảng 8-12.000 tấn ure hạt đục của Ai Cập cho Italia trong
tháng 5 này. Toàn bộ hàng xuất khẩu trong tháng 5 của EFC và Alexfert đă
được cam kết bán cho Ameropa và Trammo. Hầu hết số hàng này được thống nhất
với giá 550 đô/tấn fob.
Pháp:
Giá ure hạt đục tăng nhanh
chóng từ 390-400 euro/tấn vdb tuần trước lên 405-410 euro/tấn vdb trong tuần
này. Đầu tuần này, các thương gia cảnh báo với khách hàng của ḿnh rằng căn
cứ vào giá dự kiến mới của Ai Cập là 580-600 đô/tấn fob vsl sẽ tương đương
với 440-450 euro/tấn vdb tại Pháp hàng tháng 5. Ure hạt trong cũng tăng
thêm khoảng 100 đô/tấn so với hai tuần trước đây. Ure của Yuzhny hiện là
600-605 đô/tấn fob trong khi 2 tuần trước đây chỉ có 490-500 đô/tấn fob. Ure
của Baltic tuần này cũng tăng lên 585 đô/tấn fob.
Italia:
Yara tăng giá hàng từ
360 euro/tấn fot đóng bao lên 370 euro/tấn fot đóng bao (~ 538 đô/tấn cfr
rời), rời tăng lên 380 euro/tấn fot đóng bao/554 đô/tấn cfr rời. Có nhiều
tin đưa tuần sau Yara sẽ tăng giá thêm 20-30 euro/tấn. Tuy nhiên, giá này
vẫn thấp hơn so với giá mà Helwan đă đạt được hôm 30/4 là 630 đô/tấn fob ~
455 euro/tấn fot đóng bao tại Ravenna (đối với 10-15.000 tấn ure hạt đục của
Ai Cập).
-Đức: Thị trường ure
hạt trong trở lên “nóng” do giá ure của Baltic tăng cao, lên 585 đô/tấn fob
tại Baltic trong tuần này ~ 430 euro/tấn fot rời. Yara cũng tăng giá ure hạt
đục lên 390 euro/tấn fot – tăng thêm 20 euro/tấn so với hai tuần trước đây.
Tại Trung Đông:
Vịnh Arập:
Hầu hết các nhà
sản xuất lớn của Vịnh Arập đang rất thoải mái với diễn biến hiện nay trên
thị trường, giá trên thị trường thế giới đang leo thang. Họ đang chờ động
thái từ ấn Độ. Trong cuộc đàm phán mới đây, các thương gia đề nghị giá 610
đô/tấn fob đối với hàng tháng 6, trong khi giá hiện nay ở Đông Nam á và Viễn
Đông là 555-590 đô/tấn fob.
Tại Đông Nam á:
ấn Độ:
Theo như dự đoán trong
năm 2008-09, ấn Độ sẽ bị thiếu hụt một lượng lớn ure. Nhiều người dự đoán
đầu tháng 5, IPL sẽ tiến vào thị trường để nhập khẩu hàng mới. Sản xuất
trong nước đă bị hạn chế c̣n dưới 20 triệu tấn, trong khi nhu cầu đă vượt
qua mức 27,5 triệu tấn, thiếu hụt khoảng 7,5-7,7 triệu tấn là điều tất yếu.
Với 1,8 triệu tấn từ nhà máy liên doanh ở Oman, c̣n khoảng 6 triệu tấn ure
sẽ cần phải nhập khẩu từ thị trường bên ngoài trong các tháng c̣n lại của
năm 2008 và đầu năm 2009. Trước khi diễn ra cuộc bầu cử, sẽ diễn ra trước
tháng 5/2009, nhiều người cho rằng Chính phủ ấn Độ sẽ không muốn nguồn dự
trữ trong nước lâm vào t́nh trạng cạn kiệt khó cứu văn, theo như báo cáo mới
nhất th́ tính đến cuối tháng 3, nguồn dự trữ của ấn Độ chỉ c̣n 1,25 triệu
tấn.
Trung Quốc:
Giá ure trong
nước tiếp tục sụt giảm nhanh chóng, cùng với thuế xuất khẩu 135% để tăng
nhanh lượng hàng dự trữ trong nước - đây là mục đích của Chính phủ khi tăng
thuế xuất khẩu lên. Giá hàng đă giảm khoảng 11% so với một tháng trước đây.
(Biểu đồ 3: Ure của Trung Quốc từ tháng 1 đến
5/2008: Xuất khẩu so với nội địa –
Giá hàng trong nước đang giảm, giá
xuất khẩu đă tăng lên mức 700 đô/tấn fob đóng bao).
(Biểu đồ 4:
Sự đồng quy giữa giá Ure trong nước của Trung Quốc và giá Quốc tế vẫn chưa
có điểm chung –
Giá ure trong
nước của Trung Quốc vẫn cần giảm 23 đô/tấn nữa đe doạ mức giá dự kiến hiện
nay là 650 đô/tấn fob của Vịnh Arập).
Thái Lan:
Qafco bán 15.000 tấn
ure hạt đục hàng tháng 5, 6 cho người mua của Thái Lan giá 600 đô/tấn cfr.
Tại châu Mỹ:
Mỹ:
Giá hàng ở Nola tăng liên
tục trong tuần này từ 588 đô/tấn lên 590 đô/tấn rồi 595 đô/tấn đối với hàng
tháng 5, và hàng tháng 6 giá 610 đô/tấn fob trong khi tuần trước giá chỉ có
515 đô/tấn fob. Hiện tại có nhiều người lo ngại rằng các thị trường ở
Midwest sẽ thiếu ure nếu điều kiện thời tiết được cải thiện từ tuần sau.
-Cước
vận chuyển tăng cũng khiến cho giá CFR leo thang. Cước vận chuyển từ Vịnh Mỹ
đến Chilê là 80 đô/tấn; từ Yuzhny đến bờ biển phía Tây châu Mỹ Latinh là 100
đô/tấn. Hai chuyến hàng ure hạt đục tái xuất khẩu từ Nola/Mỹ cho Chilê giá
25 đô/tấn cfr và Mê-xi-cô giá 720 đô/tấn cfr tại bờ biển phía Tây. Chilê và
Mê-xi-cô là hai thị trường được miễn thuế, điều này tạo ra lợi thế quan
trọng về thuế chống lại FSU và các nguồn cung cấp khác. Chilê vẫn cần mua
thêm hàng.
Thị trường
Phosphates:
Giá DAP:
Mỹ: 1.225-1.230 đô/tấn
fob Tunizi: 1.200-1.230 đô/tấn fob
Marốc: 1.200-1.230 đô/tấn
fob Jocdani: 1.250-1.250 đô/tấn fob
Baltic: 1.240-1.250 đô/tấn
fob
- Với một vài chuyến hàng
phosphate chưa bán cho Trung Quốc “chết gí” trong kho hoặc đang lênh đênh
trên biển và những người mua lớn ở Brazil và ấn Độ tạm thời rời khỏi thị
trường, các thương gia không c̣n nhiều hứng thú bán hàng cho các thị trường
ở xa và các nhà sản xuất nhận thấy họ khó có thể tăng giá với tốc độ như đă
từng làm hai tháng trước đây.
- Thị trường nội địa Mỹ
cũng giảm giá do thời tiết ẩm ướt, ảnh hưởng đến nhu cầu và giá vận chuyển
bằng sà lan đứng ở mức cao, do giá thế giới tăng, làm giảm nhu cầu ở các
bang không trồng ngô.
- Tuy nhiên, có một số nhân
tố khiến giá hàng sẽ c̣n tăng trong mùa hè này:
·
Cước vận
chuyển tăng tạo thêm sức ép lên giá CFR.
·
Chi phí cho
sulphur tiếp tục tăng. Hàng tháng 5 bán cho Trung Quốc giá đang phải đối mặt
với giá vượt mức 800 đô/tấn cfr. Không có thị trường xuất khẩu, các nhà sản
xuất của Trung Quốc có lẽ phải cắt giảm sản xuất trong suốt mùa hè này và
cũng có nghĩa là sẽ có ít DAP của Trung Quốc xuất khẩu trong Q4 sắp tới.
·
Dự đoán thuế
xuất khẩu sẽ tăng 100% đối với quặng của Trung Quốc sẽ tác động đến các nhà
sản xuất NPK ở Hàn Quốc – những người đang phải chịu chi phí nhập khẩu ure
leo thang. Nhật Bản cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng và hai quốc gia này có
thể sẽ phải nhập khẩu thêm DAP/NPK trong mùa hè này.
·
ấn Độ và
Brazil sẽ cần mua thêm hàng Q3 và ấn Độ đă nh́n thấy giá vượt qua mức 1.300
đô/tấn cfr trong các hợp đồng.
(Biểu đồ 5:
Xuất khẩu và Giá DAP/MAP của Mỹ).
Tại Việt Nam:
Dầu khí Việt
Nam đă mua 25.000 tấn DAP của Tunizi giá 1.340-1.350 đô/tấn cfr, cước vận
chuyển là 100 đô/tấn hàng tháng 5. Samsung cũng mua 25.000 tấn DAP hàng
tháng 5 của Tunizi giá 1.200-1.215 đô/tấn fob và hiện đang chào bán cho Dầu
khí Việt Nam.
Tại Mỹ:
Phoschem bán DAP hàng tháng 5 cho Nam Mỹ giá 1.225 đô/tấn fob và 7.000 tấn
cho Trung Mỹ giá 1.230 đô/tấn fob. Giá hàng trong nước hiện đang chịu tác
động bởi giá quốc tế và nhu cầu trong nước. Các bang không trồng ngô ở miền
Đông và Nam, mức tiêu thụ DAP giảm nhanh chóng, trong khi đó, thời tiết ẩm
ướt làm chậm lại mùa vụ ở nhiều bang.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ:
Hàng
DAP dự trữ c̣n ít nhưng nhu cầu vẫn thấp hơn so với thông thường từ tháng 5
đến tháng 7 bởi v́ người mua đang cố gắng để chi trả theo giá trên thị
trường thế giới.
Tại Tunizi:
GCT bán 2
chuyến hàng 25.000 tấn cho châu á giá 1.200-1.212 đô/tấn fob. DAP hàng tháng
5 bán cho Đông Phi với số lượng nhỏ giá 1.250 đô/tấn fob.
(Biểu đồ 6: So sánh giá DAP và TSP
của Ma-rốc).
Tại Ma-rốc:
Hiện tại OCP
đang lên kế hoạch vận chuyển acid phosphoric cho ấn Độ và không biết điều
này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng hàng hạt. Tại thời điểm này, ước
tính sản lượng hàng hạt giảm c̣n 80%. Không có tin tức về các chuyến hàng
DAP/MAP mới và nhà sản xuất đang quan sát thị trường trước khi đưa ra quyết
định mới. Giá mới nhất là 1.250-1.300 đô/tấn fob, nhưng khó có thể thực hiện
do nhu cầu của Brazil giảm và nhu cầu của châu Âu cũng hạn chế.
Thị trường Ammonia:
Giá Ammonia:
Tây Bắc Âu: 467-472 đô/tấn
fob Yuzhny: 460-465 đô/tấn fob
Bắc Phi: 545-548 đô/tấn
fob Trung Đông: 498-510 đô/tấn fob
Ca-ri-bê: 510 đô/tấn fob
Giá CFR tại một số
thị trường:
Viễn Đông: 540-550 đô/tấn
cfr Mỹ: 550-555 đô/tấn cfr
ấn độ: 520-538 đô/tấn
cfr Tây Bắc Âu: 507-540 đô/tấn cfr
Đài Loan: 545-550 đô/tấn
cfr
- Giá ammonia của Biển Đen
giảm thêm 20 đô/tấn trong tuần này, sau khi giá KIP mới của Ucraina thông
báo giảm 60 đô/tấn. Kết quả là các tàu lớn hơn ở Yuzhny muốn nhanh chóng xếp
hàng trong các tuần sắp đến, sau khi bị chậm chễ rất lâu trong tháng 4.
- Tại Trung Đông, nhu cầu
mua hàng của Vịnh Arập từ ấn Độ vẫn rất hạn chế. Tại Iran, sản lượng ammonia
sẽ tăng lên trong các tuần sắp tới do nhà máy Razi II hoạt động trở lại và
có thêm hàng xuất khẩu từ Razi I.
- Thời tiết được cải thiện
ở Mỹ khiến nhu cầu được cải thiện nhưng lượng hàng dự trữ c̣n nhiều nên chủ
yếu nhu cầu từ Mỹ trong tháng 5 phụ thuộc vào các nhà công nghiệp.
(Biểu đồ 7: So sánh giá Ammonia
của Trung Đông và Yuzhny)
Tại Biển Đen:
Yara mua
hàng tháng 5 của hai nhà sản xuất là Nga và Ucraina giá 460-465 đô/tấn fob.
Hàng của Yuzhny giá cũng đă được điều chỉnh về mức này. Giá ammonia của Biển
Đen sẽ c̣n tiếp tục giảm xuống các tuần sắp tới. Chính phủ Ucraina đă điều
chỉnh giá KIP xuống c̣n 420 đô/tấn fob có hiệu lực từ 1/5 cho đến khi có
thông báo mới – giảm 60 đô/tấn so với giá KIP tháng 4.
thị trường sulphur:
giá Sulphur:
Iran: 666-707 đô/tấn
fob UAE: 720 đô/tấn fob
Saodi: 380-670 đô/tấn
fob Canada: 310-700 đô/tấn fob
Biển Đen: 370-700 đô/tấn
fob
ấn Độ: 700-748 đô/tấn
cfr Trung Quốc: 710-765 đô/tấn cfr
Bắc Phi: 420-600 đô/tấn cfr
- Thị trường sulphur tiếp
tục tăng giá và người mua vẫn chưa được đáp ứng đủ nhu cầu hàng Q2 và hiện
đang phải đối mặt với giá trên 750 đô/tấn cfr từ tất cả các nguồn cung cấp.
Các chuyến hàng tháng 5 mới vận chuyển cho Trung Quốc có giá 760-765 đô/tấn
cfr. Nhà cung cấp đă thành công với giá 750 đô/tấn cfr tại ấn Độ và Nam Phi
trong thời gian gần đây.
- Các chuyến hàng mới bán
cho Jocdani lợi thế về cước vận chuyển rẻ hơn đối với hàng của Vịnh Arập giá
750 đô/tấn cfr, sẽ tương đương với giá trên 800 đô/tấn cfr tại Trung Quốc.
Không có “không gian để thở cho người mua”, những người mong muốn tối đa
công suất sản xuất phosphate do sự bùng nổ giá P2O5 ngày một nghiêm trọng
hơn. Hiện tại có nhiều dự đoán cho rằng giá 800 đô/tấn cfr sẽ nhanh chóng
được thiết lập.
- Thị trường càng nóng hơn
khi Adnoc thông báo tăng thêm 50 đô/tấn đối với hàng tháng 5 bán cho ấn Độ
lên 720 đô/tấn fob tại Ru-wais. Không có chuyến hàng nào được vận chuyển cho
ấn Độ trong thời điểm này.
-- Lo ngại thiếu hàng trên
toàn cầu ngày một rơ nét hơn, trong đó có cả Moisac/Mỹ. ICEC – nhà cung cấp
chủ đạo cho Moisac - đă sắp xếp vận chuyển hàng tháng 5 với số lượng nhỏ từ
Libya và Virgin Isles, sau khi vận chuyển hàng Q1 từ Biển Đen.
(Biểu đồ 8: So sánh giá
Sulphur trên thị trường tự do).
Tại Trung Quốc:
Hàng
tháng 5 mới bán ở Trung Quốc có giá 760-765 đô/tấn cfr. Với giá tăng lên ở
Trung Đông (Adnoc thông báo tăng giá lên 720 đô/tấn fob tại Ru-wais) và hàng
bán cho Jocdani giá khoảng 750 đô/tấn cfr khiến các thương gia phải đưa ra
giá cao hơn và giá 800 đô/tấn cfr có thể sẽ được áp dụng cho hàng tháng 6.
(Biểu đồ 9: So sánh giá
Sulphur và DAP).
Thị trường Potat:
Giá MOP:
Brazil: 600-750 đô/tấn cfr
Đông Nam á: 525-725 đô/tấn cfr
- Kể từ khi BPC thông báo
giá 1.000 đô/tấn cfr đối với MOP chuẩn ở châu á hàng Q2 có hiệu lực từ 1/7,
đă có 1 chuyến hàng đạt được giá trên nhưng cảng đích không được tiết lộ bởi
v́ người mua rất nhạy cảm về việc trở thành người đầu tiên mua hàng với giá
cao mới. Tuy nhiên, chỉ có thể là các nông trang trồng cọ dầu có thể chấp
nhận giá trên v́ giá dầu cọ thô dễ dàng bù lại được chi phí đầu vào cao.
- Giá 725/750 đô/tấn cfr
của Canpotex đối với MOP chuẩn/MOP hạt bắt đầu có hiệu lực từ 1/6 đă được
thông báo từ tuần trước, kể từ đó một lượng hàng lớn đă được bán cho 5 quốc
gia ở châu á với mức giá trên. Tuy nhiên, sau thông báo mới của BPC, hiện
Canpotex đang tính toán giá tương lai cho hàng Q3.
- Thông báo khác của BPC về
giá 1.000-1.050 đô/tấn cfr đối với MOP hạt bán cho Brazil bắt đầu từ 1/7 vẫn
chưa được thực hiện và cần thêm chút thời gian. Tuy nhiên, không ai có thể
biết được sẽ xảy ra chuyện ǵ trong bối cảnh thị trường hiên nay???
- Chính phủ Trung Quốc đang
nỗ lực hết sức để giảm giá MOP ở thị trường nội địa. Giá MOP và NPK mới
trong đơn đặt hàng đă được ban hành bởi Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc
gia (NDRC) hôm 15/4. Uỷ ban này yêu cầu các nhà hành chính coi MOP và NPK
như một loại giá đặc biệt quan trọng nhất điều hành giá phân bón.
- Thêm các hợp đồng MOP
được kư ở ấn Độ với giá 625 đô/tấn cfr trong 180 ngày. APC bán MOP chuẩn cho
In-đô-nê-xi-a giá 725 đô/tấn cfr. BPC bán MOP hạt cho thị trường Tây Âu giá
475 euro/tấn cfr. IPC bán MOP chuẩn cho Thổ Nhĩ Kỳ giá 740 đô/tấn cfr.
Tại Trung Quốc:Ngày
30/4, ICL đă cam kết bán 300.000 tấn MOP chuẩn cho Sinochem – giống như hợp
đồng đă kư với BPC và Canpotex – giá FOB tăng thêm 400 đô/tấn, vận chuyển
trong các tháng c̣n lại của năm 2008. Chuyến hàng đầu tiên có thể sẽ được
vận chuyển vào cuối tháng 5.
Tại Đông Âu:
IPC thông
báo tăng giá MOP bán cho Đông Âu thêm 100 euro/tấn trong tháng 6/2008. Giá
hàng vận chuyển từ tháng 7 sẽ có thông báo sau.
Tóm lại:
Tuần này, giá ure tiếp tục
có bước đột phá mới, tăng thêm 40-75 đô/tấn tại FSU, 25-60 đô/tấn tại Trung
Đông hay 45-55 đô/tấn tại Mỹ.
Ngoại trừ ammonia đang trên
đà rớt giá, các loại phân khác như phosphate vẫn tăng giá nhưng với tốc độ
chậm; giá sulphur và potat vẫn leo thang.
Với những diễn biến hiện
nay trên thị trường thế giới, giá các loại ure, phosphate, sulphur và potat
c̣n có thể tăng hoặc sẽ c̣n duy tŕ ở mức cao./.