|
Các
biện pháp làm tốt công tác cung ứng phân bón phục vụ thị trường trong nước và
xúc tiến mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm phân lân nung chảy (fmp)
Bùi Quang Lanh
UV Thường vụ BCH Hội phân
bón Việt Nam
Giám đốc công ty Phân lân
nung chảy Văn Điển Hà Nội
Đất nước ta đă bước
vào hội nhập; Để tồn tại và phát triển, từng doanh nghiệp phải nắm vững từng sản
phẩm của doanh nghiệp ḿnh sản xuất ra có tồn tại lâu dài được không? Những ưu
điểm, những nhược điểm của sản phẩm do doanh nghiệp ḿnh sản xuất so với sản
phẩm cùng loại trong nước và nước ngoài. Từ đó nghiên cứu các biện pháp để phát
huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, tạo sự cạnh tranh với sản phẩm cùng loại
trong nước và thế giới để phát triển.
Về t́nh h́nh sản
xuất và sử dụng lân nung chảy trên thế giới và Việt Nam trong những năm qua như
sau:
I. Trên thế giới:
Phân lân nung chảy
(FMP) c̣n có tên gọi là phân lân canxi manhê - phốtphát manhê nung chảy; được
nghiên cứu và công bố kết quả tại Nhật Bản từ tháng 1/1948 và tiến hành sản xuất
với quy mô nhỏ từ tháng 4/1948, năm 1950 sản xuất 21.603 tấn.
Từ năm 1977 đến năm
1980 Nhật Bản xây dựng 14 nhà máy với tổng công suất 600.000 tấn; Năm 1978 sản
xuất được 580.638 tấn, nguyên liệu và nhiên liệu để sản xuất phân lân nung chảy
tại Nhật Bản đều phải nhập của Mỹ, Trung Quốc nên giá thành sản xuất rất cao,
giá bán rất cao - giá bán năm 1993 là 340 -360 đôla Mỹ 1 tấn (tại thời điểm này
giá bán đạm urê 100 đôla Mỹ 1 tấn).
Tại Nhật Bản, để
sản xuất lân nung chảy bằng công nghệ ḷ điện tiêu hao điện cho 1 tấn sản phẩm
từ 874 KWh đến 974 KWh điện; Sản xuất bằng ḷ bằng tiêu hao cho 1 tấn sản phẩm
hết 130 lít dầu và 155 KWh điện.
Nhật Bản đă xuất
khẩu công nghệ, thiết bị sản xuất phân lân nung chảy sang Hàn Quốc, Braxin, Nam
Phi, Trung Quốc.
Tại Trung Quốc
những năm 1970 - 2000, sản xuất phân lân nung chảy phát triển rất mạnh. Có tỉnh
như Vân Nam với 40 nhà máy, tổng công suất 1,2 triệu tấn; Nhiên liệu sử dụng là
than cok, 1 tấn lân nung chảy trước đây là 0,33 tấn than cok, nay là 0,25 tấn
than cok.
Người Nhật coi lân
nung chảy (FMP) là loại phân đa chất, có tổng thành phần dinh dưỡng rất cao -
cao nhất trong các loại phân bón hiện đang sử dụng; V́ ngoài lân P205
hữu hiệu 20%, tổng kiềm (Ca0 + Mg) ≥ 45%, Si02 ≥ 24% và các chất
trung lượng, vi lượng khác (Tổng thành phần dinh dưỡng đa lượng, trung lượng
trên 90%). Phân lân nung chảy khi bón không tan trong nước nhưng tan 100% trong
môi trường axit do rễ cây tiết ra nên không ô nhiễm môi trường, hiệu quả ngoài
việc nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, c̣n tăng khả năng chống chịu sâu
bệnh và cải tạo đất.
II. T́nh h́nh phát triển lân nung chảy tại Việt
Nam:
Năm 1959, Trung
Quốc giúp Việt Nam xây dựng nhà máy sản xuất lân nung chảy tại Văn Điển - Hà
Nội; Đến năm 1963 chính thức đi vào sản xuất, công suất theo thiết kế ban đầu
20.000 tấn phân lân nung chảy (FMP) một năm. Toàn bộ thiết bị, công nghệ đều do
Trung Quốc đầu tư giúp đỡ.
Nguyên liệu sử dụng
là quặng Apatít, quặng Sécpentin trong nước. Nhiên liệu sử dụng là than Cok,
100% phải nhập ngoại.
Về thổ nhưỡng, đất
đai Việt Nam chủ yếu là đất chua, đất đồi núi bạc màu và nguồn quặng Apatít cục
loại 2 chiếm tỷ trọng lớn, nên đẩy mạnh sản xuất và sử dụng phân lân nung chảy
là phù hợp với nguồn nguyên liệu và thổ nhưỡng. V́ vậy, từ những năm 70-80 chủ
trương của Nhà nước là đầu tư phát triển ngành Lân nung chảy đạt công suất sản
xuất trên 400.000 tấn (công suất gấp 2 lần supe lân tại thời điểm);
Toàn bộ các dây
chuyền sản xuất mới cũng đều áp dụng công nghệ của Trung Quốc, sử dụng 100% than
cok nhập ngoại, chủ yếu của Trung Quốc.
Năm 1975 do quan hệ
giữa Việt Nam - Trung Quốc, Trung Quốc ngừng xuất than cok cho Việt Nam; Nhập
của úc, Liên Xô cũ th́ không đủ ngoại tệ và khối lượng nhập cũng rất ít không đủ
cho sản xuất và không hiệu quả kinh tế, nên từ năm 1976 toàn bộ các dự án mở
rộng và phát triển ngành Lân nung chảy của cả nước đều phải ngừng. Tại Công ty
Phân lân nung chảy Văn Điển năm 1979 chỉ sản xuất được 7.610 tấn lân nung chảy.
Trước t́nh h́nh đó,
để khôi phục sản xuất lân nung chảy, chủ trương của Nhà nước là sản xuất than
Cok gầy để làm nhiên liệu sản xuất phân lân nung chảy. Tại Phân lân Văn Điển,
xây dựng một dây chuyền 5.000 tấn /năm. Tại Phân lân Ninh B́nh xây dựng một dây
truyền 10.000 tấn/năm. Nếu thành công và có hiệu quả sẽ xây dựng các nhà máy sản
xuất than Cok gầy có công suất lớn hơn. Nhưng trong quá tŕnh thực nghiệm gần 15
năm từ năm 1975 đến năm 1990 đều chưa thu được kết quả có hiệu quả nên toàn bộ
02 dây chuyền sản xuất Cok gầy tại Văn Điển và Ninh B́nh đều phải bỏ.
Từ năm 1976 Công ty
Phân lân nung chảy Văn Điển đă nghiên cứu sử dụng trực tiếp 100% than gầy Vàng
Danh, Uông Bí để thay than Cok nhập ngoại. Đến năm 1984 toàn bộ 5 ḷ cao tại
Phân lân Văn Điển đă đi vào hoạt động bằng 100% nhiên liệu là than Antraxít
Quảng Ninh. Trên cơ sở kết quả của Phân lân Văn Điển, Tổng cục hóa chất đă quyết
định khôi phục nhà máy Phân lân Ninh B́nh đưa vào sản xuất từ năm 1984 bằng
nhiên liệu là than Antraxít Quảng Ninh.
Khi bước vào cơ chế
thị trường, đặc biệt khi hội nhập, Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển đă nhận
rơ để tồn tại và phát triển, bắt buộc phải t́m các biện pháp để nâng cao chất
lượng phân bón, sản xuất những sản phẩm mà thị trường trong nước cũng như thế
giới yêu cầu, giá thành sản phẩm phải hạ, tạo sự cạnh tranh với các sản phẩm
cùng loại trong nước cũng như nước ngoài.
Để đạt được mục
tiêu trên, Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển đă nghiên cứu một loạt các biện
pháp cụ thể về kỹ thuật, về thị trường và đào tạo con người.
Về khoa học kỹ
thuật trong những năm qua Công ty đă nghiên cứu và đưa vào thực tế sản xuất hàng
trăm giải pháp khoa học, sáng kiến; trong đó có 6 giải pháp được nghiên cứu cấp
bằng Độc quyền sáng chế và Độc quyền giải pháp hữu ích. Các giải pháp này đă
được áp dụng thực tế vào sản xuất liên tục từ năm 1990 đến nay sản xuất phân lân
nung chảy bằng 100% nhiên liệu than Antraxít đạt được các chỉ tiêu kinh tế kỹ
thuật tiên tiến hơn so với Trung Quốc, Nhật Bản khi chạy bằng nhiên liệu là than
Cok, dầu…đă mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn quyết định sự tồn tại phát triển
của ngành sản xuất lân nung chảy.
Bảng so sánh một số chỉ
tiêu kinh tế kỹ thuật sản xuất phân lân nung chảy (FMP) tại Việt Nam sau khi áp
dụng các bằng Độc quyền sáng chế, Độc quyền giải pháp hữu ích
|
TT |
Nguyên, nhiên liệu,
điện năng |
ĐVT |
Trước khi áp dụng |
Sau khi áp dụng |
So sánh |
|
(1) |
(2) |
(3) |
(4) |
(5) |
(5)/(4) |
giảm |
|
1 |
Nguyên liệu |
T/TSP |
1,65 |
1,2 |
72,72% |
27,28% |
|
2 |
Nhiên liệu
- Than antraxit |
T/TSP |
0,62 |
0,22 |
35,48% |
64,52% |
|
3 |
Điện năng |
Kwh/TSP |
145 |
42 |
28,96% |
71,04% |
Do áp dụng các giải
pháp khoa học kỹ thuật, trong 2 năm 2006, 2007 tại Công ty Phân lân nung chảy
Văn Điển đă tiết kiệm tiêu hao nguyên nhiên liệu, điện năng rất lớn:
- Năm 2007, sản
xuất 272.277 tấn phân lân nung chảy, tiết kiệm 110.385 tấn than cục Vàng Danh,
Uông Bí; 54.693 tấn quặng Apatit, 90.027 tấn quặng secpentin, 27.985.846 kwh
điện, tương ứng số tiền tiết kiệm 146,978 tỷ đồng.
- Năm 2006, sản
xuất 259.363 tấn phân lân nung chảy, tiết kiệm 110.385 tấn than cục Vàng Danh,
Uông Bí; 52.231 tấn quặng Apatit, 86.035 tấn quặng secpentin, 26.764.042 kwh
điện, tương ứng số tiền tiết kiệm 129,594 tỷ đồng.
Hiện nay giá vật tư
đầu vào tăng cao th́ số tiền tiết kiệm sẽ càng nhiều hơn.
Các chỉ tiêu kinh
tế, kỹ thuật chủ yếu sản xuất phân lân nung chảy của Công ty Phân lân nung chảy
Văn Điển hiện tại thấp hơn rất nhiều so với Nhật Bản và Trung Quốc; Cụ thể:
+ Về điện: tiêu hao
điện cho 1 tấn phân lân nung chảy tại Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển thấp
hơn rất nhiều so với Nhật Bản và Trung Quốc, bằng 52,5% so với Trung Quốc, 27%
so với Nhật Bản.
+ Về than: tại Công
ty Phân lân nung chảy Văn Điển dùng than antraxit nội địa nhưng định mức thấp
hơn so với Trung Quốc dùng than cok.
Về chất lượng, sản
phẩm phân lân nung chảy Văn Điển ngày một nâng cao, đáp ứng nhu cầu sử dụng trên
đất Việt Nam và đă xuất khẩu sang các thị trường: úc, Nhật Bản, Malaysia, Đài
Loan …
Giá 1 tấn phân lân
nung chảy Văn Điển hiện nay đang xuất cho úc là 230 đôla Mỹ 1 tấn. Các đơn hàng
nước ngoài ngày càng tăng, trước đây mỗi lô xuất chỉ 100 tấn nhưng năm vừa qua
mỗi lô là: 500 ữ 1.000 tấn. Bước sang năm 2008 đă có đơn hàng 30.000 tấn FMP.
Sản lượng phân bón
Văn Điển ngày càng tăng: năm 1979 là 7.610 tấn, năm 2001 là 128.000 tấn, năm
2007 là 370.000 tấn, năm 2008 dự kiến sẽ là 400.000 tấn (trong đó phân lân nung
chảy là 280.000 ữ 290.000 tấn).
Xu hướng sử dụng
phân lân nung chảy và NPK sản xuất có gốc lân từ lân nung chảy ngày càng tăng.
III. Về phát triển phân lân nung chảy trong thời gian tới và kiến
nghị:
Trong nhiều thập kỷ
qua, phần lớn chúng ta đều có suy nghĩ lân nung chảy thuộc dạng lân đơn, hàm
lượng dinh dưỡng thấp. Trong khi đó, nhiên liệu sản xuất là than cok phải nhập
ngoại 100%. Chính từ suy nghĩ đó, nên chúng ta chưa thực sự quan tâm vào việc
phát triển sản xuất lân nung chảy.
Nhật Bản là nước có
nền công nghiệp phát triển, nông nghiệp phát triển, khoa học công nghệ phát
triển; Từ năm 1950 đến năm 1975 họ đă nghiên cứu rất kỹ lưỡng về hiệu quả của
lân nung chảy (FMP) và đă kết luận: phân lân nung chảy là loại phân bón đa dinh
dưỡng, tổng thành phần dinh dưỡng đa lượng, trung lượng chiếm trên 90%; Nó là
loại phân bón không thể thiếu đối với vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới nghèo lân.
Việt Nam ta là một
nước nằm trong vùng nhiệt đới, 80% đất đai là đất chua, đất đồi núi bạc màu, sử
dụng lân nung chảy và NPK có gốc lân nung chảy rất phù hợp. Nếu chúng ta kết hợp
tốt 4 nhà: Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông th́ sản lượng lân
nung chảy và NPK sản xuất từ lân là lân nung chảy sẽ là vài triệu tấn.
Đạm để sản xuất NPK
mà lân là lân nung chảy th́ sử dụng 100% là đạm urê, đây là thuận lợi v́ đạm urê
sản xuất tại Việt Nam, tới đây Đạm Phú Mỹ mở rộng, Đạm Hà Bắc mở rộng, Đạm Ninh
B́nh, Đạm Cà Mau đi vào sản xuất th́ đạm urê sẽ dư thừa, buộc phải xuất khẩu.
Trong khi đạm SA phải nhập, giá SA sẽ ngày càng tăng rất cao so với đạm urê.
Về thị trường nước
ngoài, nếu chúng ta làm tốt công tác xúc tiến mở rộng thị trường sẽ xuất khẩu 1
năm vài chục vạn tấn lân nung chảy sang Nhật Bản, úc, Malaysia, Trung Quốc …
Lân nung chảy sản
xuất bằng 100% nguyên, nhiên liệu tại Việt Nam, định mức tiêu hao nguyên liệu,
nhiên liệu thấp hơn so với Nhật Bản, Trung quốc, giá thành hạ, chất lượng đáp
ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu; Đây là yếu tố thuận lợi trong điều
kiện giá vật tư nhập khẩu ngày càng tăng, số lượng nhập khẩu không chủ động
được.
Một số kiến nghị:
1. Nhu cầu sử dụng
lân trong nước và xuất khẩu tới đây tăng mạnh; Sản xuất lân nung chảy, supe lân,
DAP cần sử dụng lượng quặng Apatit rất lớn. Đối với sản xuất lân nung chảy và
supe lân, mỗi tấn cần 0,7 tấn Apatit, nếu sản xuất 3 triệu tấn lân nung chảy và
supe lân phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu th́ cần 2,1 triệu tấn Apatit,
chưa kể tới đây đưa dây truyền DAP vào sản xuất và mở rộng sản xuất DAP, lượng
Apatit c̣n tăng nhiều. Năng lực của tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội không đáp
ứng nổi; V́ vậy Nhà nước cần khẩn trương đầu tư xây dựng thêm tuyến đường sắt
này để đáp ứng vận chuyển Apatit, các mặt hàng khác và dịch vụ.
2. Than sử dụng cho
sản xuất lân nung chảy là than cục Vàng Danh, Uông Bí; Đây là nguồn than rất quư
hiếm. Đề nghị cần xem xét lại, hiện nay có nên xuất khẩu loại than này không hay
để dành cho sản xuất phân bón hiện nay và cho mai sau.
Rất mong các đồng
chí quan tâm
Xin
trân trọng cảm ơn./.
|